Các loại viêm da ở trẻ em dễ mắc phải – Giúp mẹ nhận biết

Viêm da cơ địa, viêm da tiếp xúc dị ứng, bệnh viêm da có mủ… là các bệnh lý phổ biến ở trẻ em. Các loại viêm da ở trẻ em này tuy không ảnh hưởng đến tính mạng song lại khiến trẻ rất khó chịu, ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển. Ngoài ra một số bệnh viêm da nếu không chữa trị kịp thời cũng sẽ gây ra nhiều biến chứng khôn lường.

1. Bệnh viêm da cơ địa

Viêm da cơ địa là bệnh lý mãn tính trên da, bệnh thường bùng phát theo từng đợt. Ở trẻ nhỏ, viêm da cơ địa thường khởi phát với những thương tổn ban đầu là ngứa và dạng chàm da. Nếu trong gia đình của trẻ có người thân có tiền sử mắc các bệnh lý liên quan tới dị ứng như hen, viêm mũi, viêm xoang, sẩn ngứa, mề đay hay dị ứng thuốc… thì trẻ sinh ra có tỉ lệ mắc viêm da cơ địa tương đối cao.

1.1. Nguyên nhân khiến bệnh khởi phát

  • Yếu tố môi trường: Ô nhiễm môi trường; bụi, lông động vật, chất liệu vải, …
  • Yếu tố di truyền: Các nhà khoa học hiện này chưa xác định được viêm da cơ địa do gen nào gây nên.Tuy nhiên có khoảng 60% người lớn bị viêm da cơ địa có con bị bệnh này và nếu cả bố và mẹ cùng bị bệnh thì con sinh ra có đến 80% cũng bị bệnh.
Viêm da cơ địa ở tay trẻ

Viêm da cơ địa ở bàn tay

1.2. Dấu hiệu/ triệu chứng

1.2.1. Dấu hiệu, triệu chứng của viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh

  • Khoảng 3 tuần sau sinh bệnh khởi phát ở mức độ cấp tính. Vùng da bị viêm đỏ, ngứa, xuất hiện nhiều mụn nước nông. Mụn nước dễ vỡ, chảy dịch và đóng vảy, có thể bội nhiễm, hạch lân cận sưng to.
  • Bệnh viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh thường xuất hiện ở 2 má hoặc cũng có thể ở da đầu, trán, cổ, hay thân mình, mặt dưới tay, chân. Và đến khi trẻ biết bò bệnh có thể xuất hiện gây tổn thương da ở đầu gối. Tuy nhiên, viêm da cơ địa không gây tổn thương ở vùng tã lót.

1.2.2.Dấu hiệu, triệu chứng của viêm da cơ địa ở trẻ em

  • Trên da xuất hiện các sẩn đỏ, vết trợt, da trở nên dày hơn, có thể xuất hiện mụn nước khu trú hay lan tỏa cấp tính kèm theo nhiễm khuẩn thứ phát.
  • Bệnh thường xuất hiện chủ yếu ở những vùng nếp gấp như khủy tay. Ngoài ra mi mắt, hai bên cổ, cẳng tay cũng có thể xuất hiện bệnh.

Viêm da cơ địa ở trẻ nhũ nhi( sơ sinh) và trẻ em không quá nguy hiểm. Hầu hết trẻ sẽ tự khỏi khi đến 18-24 tháng tuổi. Đối với trẻ em thì khoảng 70% sẽ tự khỏi khi lớn lên nếu chăm sóc và điều trị đúng cách, 30%  còn lại thì kéo dài dai dẳng. Tuy nhiên bệnh không gây nguy hiểm gì nhiều tới sức khỏe hay tính mạng.

Dấu hiệu viêm da cơ địa ở trẻ

Dấu hiệu viêm da cơ địa ở trẻ

1.3. Cách điều trị

  • Nguyên tắc điều trị là làm dịu viêm ngứa, chống khô da, chống nhiễm trùng, chống viêm.
  • Điều trị tại chỗ bằng tắm hàng ngày với nước ấm, dưỡng ẩm da bằng các sản phẩm lành tính, có nguồn gốc từ thiên nhiên như Kem EmBé.
  • Trẻ nhỏ dùng loại hoạt tính yếu như: hydrocortison 1-2,5%.
  • Trẻ lớn và ngƣời lớn dùng loại có hoạt tính trung bình: desonid, clobetason butyrat.
  • Với những tổn thương lichen hóa, vị trí da dầy có thể dùng loại corticoid hoạt tính mạnh hơn như clobetasol propionat.

Kem EmBé không chứa corticoid, không paraben nên rất an toàn cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Thoa Kem EmBé sau khi tắm giúp ngăn ngừa, điều trị viêm da và dưỡng ẩm da tối ưu.

Kem EmBé trị các loại viêm da ở trẻ em

Kem EmBé trị các loại viêm da ở trẻ em hiệu quả

1.4. Cách chăm sóc

  • Giữ phòng ngủ của bé thoáng mát, độ ẩm phù hợp
  • Tránh để trẻ tiếp xúc với lông gia súc, gia cầm
  • Hạn chế quần áo bằng chất liệu len, dạ thay vào đó nên mặc đồ vải cotton.
  • Tắm nước ấm, nhiệt độ < 36°C, ngay sau khi tắm xong bôi kem dưỡng ẩm da.
  • Vệ sinh vùng tã lót ở trẻ nhỏ tránh các chất bẩn tiếp xúc lâu với da gây viêm.
  • Tránh ăn các thức ăn gây kích ứng cho cả mẹ và bé.

2. Bệnh viêm da tiếp xúc dị ứng

Trong các loại viêm da ở trẻ em, viêm da tiếp xúc dị ứng luôn là bệnh rất phiền toái cho trẻ và mẹ. Phản ứng tổn thương của da gây ra khi tiếp xúc với một số yếu tố từ môi trường bên ngoài gây ra viêm da dị ứng.

Bệnh có thể diễn tiến cấp tính hoặc mạn tính, tùy từng trường hợp. Đây cũng là bệnh thường gặp với 1.5-5.4% dân số thế giới gặp phải ở nhiều lứa tuổi khác nhau, trong đó có trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Hình ảnh viêm da dị ứng ở trẻ em

Hình ảnh viêm da dị ứng ở trẻ em

2.1. Nguyên nhân

  • Cơ chế sinh bệnh là do viêm da tiếp xúc dị ứng là phản ứng quá mẫn cảm.
  • Nguyên nhân chính của dị ứng là do sự tác động của một số kim loại như nickel, cobalt, chromates đồng; do thuốc bôi như chất màu, dung dịch dầu, một số loại băng dính, chất dẻo, cao su; do thực vật hoặc do ánh sáng.

2.2. Dấu hiệu/ triệu chứng:

  • Cấp tính: Ở giai đoạn này trên da xuất hiện những dát đỏ, có ranh giới rõ ràng và có hiện tượng phù nề. Nếu vùng da dị ứng có xuất hiện mụn nước, sẩn hoặc có bọng nước liên kết với nhau tạo thành từng mảng lớn. Các bọng nước này khi bị vỡ sẽ để lại những vết trợt và khi khô thì sẽ đóng vảy tiết. Trẻ có cảm giác ngứa, khó chịu.
  • Bán cấp tính: Giai đoạn này những tổn thương da có màu đỏ nhạt, kích thước nhỏ và có vảy khô. Trong nhiều trường hợp trên da xuất hiện đốm màu đỏ nhỏ hoặc những vùng da sẩn chắc và có hình tròn.
  • Mạn tính: Giai đoạn này thường da sẽ dày, có thể bị lichen hóa. Bằng cảm quan có thể nhận thấy nếp da sâu thành những đường kẻ song song hoặc hình thoi. Bong vảy da cùng các sẩn nhỏ, chắc, hình tròn, phẳng, những vết trầy xước, dát đỏ và nhiễm sắc tố cũng là những dấu hiệu trên da dễ nhận biết.

Mức độ nguy hiểm: viêm da tiếp xúc dị ứng nếu không được cách ly với tác nhân gây dị ứng và kịp thời điều trị thì có thể bị lở loét, nhiễm trùng. Đặc biệt khi bị nhiễm trùng máu có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng.

Viêm da dị ứng giai đoạn nặng

Viêm da dị ứng giai đoạn nặng

2.3. Cách điều trị

Nguyên tắc điều trị viêm da tiếp xúc dị ứng là loại bỏ căn nguyên gây bệnh. Tất cả các phương pháp điều trị triệu chứng sẽ thất bại nếu căn nguyên gây bệnh không được loại bỏ.

Điều trị bệnh cụ thể như sau:

  • Viêm da dị ứng cấp tính, lan tỏa toàn thân có thể chỉ định corticoid toàn thân liều thấp 15-20mg/ngày x 3 ngày sau giảm liều xuống 5mg/ngày x 3 ngày rồi ngừng điều trị.
  • Điều trị tại chỗ phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh, thường sử dụng các chế phẩm có corticoid.
Thuốc trị viêm da dị ứng

Thuốc trị viêm da dị ứng

2.4. Cách chăm sóc

  • Bố mẹ cần chú ý luôn vệ sinh vùng da của con sạch sẽ
  • Tránh để tác nhân gây dị ứng tiếp xúc với da trẻ
  • Cắt móng tay thường xuyên, đêm trước khi đi ngủ đeo bao tay để tránh trẻ gãi ngứa vào vết viêm da dễ gây bội nhiễm

2.5. Cách phòng tránh với trẻ nhỏ:

  • Tránh xa tác nhân gây bệnh.
  • Sử dụng kem bảo vệ như Kem EmBé tùy theo hoàn cảnh bị bệnh.
  • Mặc quần áo hoặc tã bỉm với chất liệu thoáng mát, vừa vặn với cơ thể trẻ.
  • Tắm rửa thường xuyên, giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ.

3. Bệnh viêm da có mủ

Các bệnh trên da như viêm da do tụ cầu khuẩn, viêm da do liên cầu khuẩn là những bệnh viêm da mủ, thường xuất hiện ở trẻ em. Các loại viêm da ở trẻ em này thường gây mụn nước, bọng mủ khó chịu và dễ bội nhiễm.

Viêm da mủ do tụ cầu khuẩn

Độc tố của tụ cầu vàng gây nhọt trên da

3.1. Viêm da mủ do tụ cầu khuẩn

Viêm da mủ do tụ cầu khuẩn hay gặp ở trẻ nhỏ do độc tố của tụ cầu vàng gây ra và có thể gây thành dịch ở trẻ sơ sinh trong bệnh viện.

3.1.1. Nguyên nhân gây bệnh

  • Do tụ cầu vàng, tên khoa học là Staphylococcus aureus tiết ra độc tố gây bong da lưu hành trong máu người bệnh.
  • Có 2 loại độc tố khác nhau là exfoliative toxin A và B (ETA, ETB). Các độc tố làm phân cắt desmoglein 1 (thường nằm ở lớp hạt của thượng bì) gây ra các bọng nước khu trú nông, dễ vỡ và bong vảy rất nhanh.

3.1.2. Dấu hiệu/ triệu chứng bệnh:

  • Ban đầu khi nhiễm khuẩn tụ cầu vàng là thương tổn chốc hoặc nhọt.
  • Bệnh khởi phát trẻ sẽ có các biểu hiện như sốt cao, mệt mỏi, khó chịu, kích thích, đau họng và đau rát da. Sau đó trên da (chủ yếu xung quanh miệng) xuất hiện những ban màu hồng nhạt.
  • Sau khoảng từ 1-2 ngày thì bệnh sẽ diễn tiến xấu đi với sự xuất hiện của những bọng nước nông, nhanh chóng vỡ tạo thành lớp vảy da mỏng, nhăn nheo hoặc có thể có đỏ da toàn thân.
Hình ảnh viêm da mủ do tụ càu khuẩn ở trẻ nhỏ

Hình ảnh viêm da mủ do tụ càu khuẩn ở trẻ nhỏ

3.1.3. Cách điều trị

Nguyên tắc điều trị viêm da mủ do tụ cầu khuẩn là sử dụng kháng sinh toàn thân, bồi phụ nước – điện giải để năng cao thể trạng người bệnh. Cụ thể:

  • Thời gian điều trị 7 ngày: sử dụng thuốc kháng sinh, tốt nhất là amoxicillin phối hợp với acid clavulanic: trẻ em < 12 tuổi: 30mg/kg/ngày chia 2 lần, trẻ em > 12 tuổi: 40mg/kg/ngày (tùy tình hình dịch tễ ).
  • Trường hợp vi khuẩn tụ cầu vàng nhạy cảm methicillin thì sử dụng oxacillin 150 mg/kg/ngày chia đều 6 giờ/lần, lộ trình điều trị từ 5-7 ngày cũng mang lại hiệu quá điều trị khả quan.
  • Đối với vi khuẩn tụ cầu vàng kháng methicillin thì sử dụng vancomycin 40-60 mg/kg/ngày chia đều 6 giờ/lần, thời gian điều trị từ 7-14 ngày.
  • Điều trị hỗ trợ: kết hợp với việc sử dụng thuốc thì nên thoa thêm kem dưỡng ẩm để nâng cao khả năng hồi phục của da.

3.1.4. Mức độ nguy hiểm của bệnh

  • Bệnh nếu được điều trị kịp thời, bệnh nhân đáp ứng tốt thì thường sẽ khỏi hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.
  • Tuy nhiên trường hợp bệnh diễn tiến nặng thì có thể gây tử vong, nhất là với trẻ bị suy dinh dưỡng, suy thận hay bị suy giảm miễn dịch.
  • Ngoài ra bệnh thường có những biến chứng nguy hiểm khác như nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi…
Nhiễm trùng máu là biến chứng nguy hiểm của các loại viêm da ở trẻ em

Nhiễm trùng máu là biến chứng nguy hiểm của các loại viêm da ở trẻ em

3.1.5. Cách phòng tránh

  • Cách ly trẻ cho đến khi khỏi bệnh hoàn toàn.
  • Bồi bổ sức khỏe để nâng cao sức đề kháng, giúp trẻ có thể trạng khỏe mạnh.
  • Điều trị sớm các ổ nhiễm khuẩn bằng kháng sinh đủ liều.
  • Đặc biệt luôn luôn giữ vệ sinh cũng như vệ sinh cá nhân cho trẻ sạch sẽ.

3.2. Viêm da mủ do liên cầu khuẩn

Viêm da mủ do liên cầu khuẩn có các thể như chốc lây, chốc loét, hăm kẽ, viêm quầng. Bệnh thường xuất hiện ở trẻ em nhiều hơn người lớn.

Viêm da mủ do liên cầu khuẩn ở trẻ nhỏ

Viêm da mủ do liên cầu khuẩn ở trẻ nhỏ

3.2.1. Nguyên nhân

  • Do liên cầu khuẩn hoặc phối hợp cả liên cầu khuẩn và tụ cầu vàng.
  • Các yếu tố tác động để bệnh bùng phát là độ tuổi (với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì bệnh dễ mắc bệnh hơn người trưởng thành).
  • Ngoài ra yếu tố thời tiết như khí hậu nóng ẩm hay điều kiện vệ sinh kém dẫn tới trẻ bị các bệnh về da như chấy, rận, ghẻ, côn trùng cắn, viêm da cơ địa cũng là khiến cho liên cầu khuẩn hoành hành.

3.2.2. Dấu hiệu/triệu chứng

Trên da xuất hiện những bọng nước nông, nằm rải rác, và có mủ, sau khi vỡ đóng vảy ở vết thương.

  • Trên da xuất hiện nhiều dát đỏ xung huyết, ấn kính hoặc căng da mất màu. Lúc này vùng tổn thương sẽ có kích thước từ 0.5-1cm. Sau một thời gian ngắn sẽ xuất hiện những bọng nước trên những dát đỏ.
  • Đặc điểm của những bọng nước này là kích thước từ 0.5-1cm, cảm quan nhăn nheo, có quầng đỏ viêm xung quanh bọng nước. Sau vài giờ, bọng nước sẽ nhanh chóng trở thành bọng mủ.
  • Khi các bọng mủ bị vỡ ra thì sẽ đóng thành vảy. Nếu cạy bỏ lớp vảy tiết này thì sẽ thấy những vết trợt nông màu đỏ, có bề mặt khá ẩm ướt.
  • Nếu liên cầu khuẩn xuất hiện ở đầu thì việc hình thành vảy tiết sẽ khiến cho tóc bị bết. Sau từ 7-10 ngày thì những vảy tiết này sẽ bong đi để lại lớp da có màu hồng, nhẵn. Những vùng da này sẽ nhanh chóng lành lặn lại mà không để lại sẹo.
  • Vị trí: thường ở vùng da hở như tay, mặt, cổ, chi dưới; đặc biệt chốc ở đầu thường kèm theo chấy.
  • Liên cầu khuẩn thường gây ra các tổn thương đi kèm khác như viêm bờ mi, chốc mép hoặc viêm cầu thận. Tuy nhiên những tổn thương kèm theo này ở trẻ em được tiên lượng là lành tính.
  • Triệu chứng toàn thân do vi khuẩn liên cầu khuẩn ở trẻ em là đôi khi có hạch viêm do phản ứng tuy nhiên thường không sốt.
  • Ngoài ra trẻ cũng có thể bị ngứa, hay quấy khóc, bỏ bú, bỏ ăn.
Viêm da mủ ở trẻ

Chốc loét – một trong những viêm da có mủ phổ biến

3.2.3. Phương pháp điều trị

Nguyên tắc điều trị là kết hợp thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân, chống ngứa, tránh lây nhiễm và điều trị biến chứng nếu có. Cụ thể:

  • Ngâm, tắm: sử dụng nước thuốc tím loãng 1/10.000 hoặc các dung dịch sát khuẩn khác để ngâm hoặc tắm 1 lần/ngày cho trẻ.
  • Chấm dung dịch màu như milian, castellani, dung dịch eosin 2%… vào buổi sáng trên các bọng nước, bỏng mủ để giúp chúng nhanh khô, đóng vảy nhanh.
  • Trường hợp nhiều vảy tiết: sử dụng nước muối sinh lý 9% hoặc nước thuốc tím 1/10000 hay dung dịch Jarish để các vảy tiết nhanh khô và bong vảy dễ dàng.  Ngoài ra cũng có thể sử dụng thuốc mỡ kháng sinh hoặc kem bôi chứa axit fucidic, erythromycin… để bôi 2-3 lần/ngày cũng giúp vảy tiết nhanh khô và bong tróc dễ dàng.

3.2.4. Mức độ nguy hiểm của bệnh

Bệnh sẽ khỏi hẳn nếu được điều trị kịp thời, đúng cách. Đối với trẻ dưới 6 tuổi, tiên lượng bệnh khi các biến chứng xảy ra thường tốt hơn so với biến chứng viêm da do liên cầu khuẩn ở người lớn.

3.2.5. Cách phòng tránh

Để bệnh viêm da do liên cầu khuẩn không có cơ hội khởi phát thì cần:

  • Phòng bệnh cho trẻ nhỏ, đặc biệt là sau khi trẻ bị sởi hay đậu mùa.
  • Vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt nên cắt gọn móng tay, móng chân và tóc tai cho bé.
  • Để trẻ được sống trong môi trường cao ráo, sạch sẽ, thoáng mát. Tránh những nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng – đây là điều kiện để vi khuẩn phát triển.
  • Khi phát hiện ra dấu hiệu bệnh cần điều trị ngay, kịp thời.
  • Không nên để trẻ gãi hay chà xát vào vùng da bị bệnh vì sẽ dễ làm bệnh lan rộng ra cũng như dễ gây nhiễm trùng.
  • Nên đưa trẻ đi xét nghiệm nước tiểu để kiểm tra khả năng bị biến chứng viêm cầu thận cấp, để kịp thời chữa trị.
  • Luôn chú ý bảo vệ trẻ khỏi côn trùng cắn, đốt.
Cách phong tránh viêm da cho trẻ em

Cách phong tránh viêm da cho trẻ em

4. Bệnh viêm da dầu (viêm da tiết bã)

Viêm da dầu là một trong các loại viêm da ở trẻ nhỏ thường gặp ở trẻ sơ sinh do tuyến bã tăng hoạt động do tác dụng của hormone androgen từ mẹ truyền qua bé.

4.1. Nguyên nhân

Nguyên nhận của bệnh viêm da dầu chưa được khẳng định rõ ràng. Thường được biết đến là do sự tăng tiết chất bã, dầu tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm phát triển. Một trong số đó phổ biến là nấm malassezia, vi khuẩn P.acne và một số vi khuẩn khác.

4.2. Dấu hiệu/triệu chứng

  • Trên da xuất hiện những dát đỏ thẫm, có vảy da khô.
  • Gàu xuất hiện đối với viêm da tiết bã ở đầu, đối với trẻ nhỏ thường gọi là “cứt trâu”.
  • Ở mặt thì da mặt xuất hiện các dát đỏ, có vảy da màu trắng, thường bị ở giữa 2 lông mày và rãnh mũi, má.
  • Ở trên cơ thể thì xuất hiện ở trước ngực và vùng liên bả vai với các sẩn đỏ ở những nang lông có vảy mỡ. Các sẩn liên kết với nhau tạo thành những mảng lớn, có nhiều cung như cánh hoa, giữa có vảy mỏng, xung quanh là các sẩn màu đỏ thẫm trên có vảy mỡ.
  • Ở vùng nhiều nếp gấp như nách, bẹn, vùng hậu môn, bộ phận sinh dục có biểu hiện viêm kẽ, đỏ da, giới hạn rõ và có vảy mỡ.
Viêm da đầu ở trẻ lan xuống mặt

Vùng da giữa chân mày đóng vảy

4.3. Mức độ nguy hiểm của bệnh

Viêm da tiết bã ở trẻ sơ sinh và dạng da đỏ toàn thân có thể tự khỏi khi trẻ được 3-4 tuổi. Tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc vào cơ địa từng bé, vì vậy để đề phòng các biến chứng có thể xảy ra thì nên điều trị càng sớm càng tốt, không nên để bệnh tự khỏi.

4.4. Các điều trị

  • Nguyên tắc điều trị là sử dụng thuốc kháng nấm tại chỗ có tác dụng đối với Pityrosporum.
  • Có thể sử dụng thuốc bôi chứa corticoid, tuy nhiên các bác sĩ khuyến cáo không nên dùng trong nhiều trường hợp.
  • Các thuốc điều trị phụ thuộc vào vị trí bị viêm da tiết bã.
    • Viêm da dầu ở đầu: gội bằng dầu gội chống nấm, nước gội đầu có pyrithion, kẽm, magie.
    • Có thể dùng xà phòng chống nấm (chlorhexidin, trichorcarbanid), sau đó dùng các dẫn chất của imidazol.
    • Nếu có nhiều vảy dày trên da đầu cần làm mềm vảy bằng xà phòng hay mỡ salicylic 5% hoặc mỡ kháng sinh.
  • Không nên dùng các thuốc corticoid bôi. Trong trường hợp tổn thương lan toả có thể sử dụng ketoconazol đường uống.
Hình ảnh trẻ bị viêm da tiết bã thể nặng

Hình ảnh trẻ bị viêm da tiết bã thể nặng

4.5. Cách chăm sóc:

  • Gội đầu thường xuyên bằng dầu gội chống nấm. Hoặc sử dụng dầu gội chiết xuất từ thiên nhiên, không nên sử dụng những loại dầu gội có thành phần hóa học.
  • Sử dụng xà bông tắm hoặc sữa tắm có chứa ZnP 2% để tắm. Hoặc sử dụng sản phẩm có chiết xuất từ thiên nhiên.
  • Mặc quần áo hay tã bỉm cho trẻ nên lựa chọn chất liệu thoáng mát, thấm hút tốt và mặc thoải mái.
  • Dưỡng ẩm bằng sản phẩm phù hợp như Kem EmBé

5. Viêm da tiếp xúc do côn trùng

Viêm da tiếp xúc do côn trùng ở trẻ nhỏ thường gặp nhất vào mùa mưa bão, tuy nhiên vẫn có thể rải rác suốt cả năm. Loại viêm da tiếp xúc do côn trùng thường gặp nhất là Paederus.

Viêm da tiếp xúc do côn trùng cắn

Viêm da tiếp xúc do côn trùng cắn

5.1. Nguyên nhân:

  • Viêm da tiếp xúc do côn trùng là bệnh do côn trùng đốt/cắn.
  • Phổ biến nhất là do kiến khoang (kiến ba khoang – Paederus). Chúng phóng ra một chất độc gọi là paederin – đây chính là nguyên nhân gây viêm da tiếp xúc.

5.2. Dấu hiệu/triệu chứng

Là một trong các loại viêm da ở trẻ gây tổn thương nặng nề và dễ dàng nhận biết với những triệu chứng dưới đây:

  • Tại vị trí côn trùng đốt xuất hiện phản ứng viêm da.
  • Ban đầu có thể chỉ là một hoặc vài đám da mẩn đỏ, sau đó xuất hiện vệt dài như vết cào xước.
  • Tiếp đến da hơi phù nề, kích thước vết cắn có thể ban đầu từ vài mm sau một lúc có thể tăng đến thành vài cm.
  • Các vết cắn sau vài giờ hoặc một ngày sẽ xuất hiện bọng nước, ở giữa có dát đỏ.
  • Một số trường hợp bị nhẹ thì chỉ thấy các dấu hiệu như ngứa, nổi một vài vết đỏ lấm tấm kèm mụn nước, mụn mủ nhỏ.
  • Sau 3-5 ngày, tổn thương khô mà không thành phỏng nước, bọng mủ.
  • Trường hợp nặng hơn thì thương tổn rộng, bọng nước, bọng mủ nông lan rộng, có thể bị loét, hoại tử.
Hình ảnh kiến ba khoang cắn

Hình ảnh trẻ bị kiến ba khoang đốt

5.3. Cách điều trị

Tùy thuộc theo giai đoạn bị tổn thương mà thuốc điều trị sẽ khác nhau.

  • Tại chỗ da bị côn trùng đốt, ngay sau khi bị đốt có thể sử dụng nước muối sinh lý NaCl 0.9% rửa 3-4 lần/ngày để làm sạch da và nước muối sinh lý có tác dụng trung hòa độc tố.
  • Sử dụng thuốc chống viêm, làm dịu da như hồ nước, hồ Tetra-Pred hoặc mỡ kháng sinh kết hợp corticoid để bôi 2-3 lần/ngày trong trường hợp da bị tổn thương đỏ, đau rát.
  • Sử dụng dung dịch màu milian, castellani hoặc nước thuốc tím pha loãng để bôi 1-2 lần/ngày  trong trường hợp trên da xuất hiện bọng nước, bọng mủ.
  • Ngoài ra có thể sử dụng thuốc kháng histamin để giảm ngứa, giảm kích ứng da.

5.4. Mức độ nguy hiểm của bệnh

  • Bệnh nếu được điều trị sớm sẽ tiến triển tốt, đỡ nhanh, tổn thương đóng vảy sau khoảng 4-6 ngày. Vết thương khô dần, bong vảy, để lại vết da sẫm màu và sẽ sáng màu dần theo thời gian.
  • Trong trường hợp nặng, có thể gây bội nhiễm, nhiễm trùng đường máu
  • Nếu bị dính vào mắt có thể gây phù nề, tổn thương giác mạc, suy giảm thị lực

5.5. Cách phòng bệnh

Cách phòng bệnh tốt nhất là tránh tiếp xúc với côn trùng gây bệnh. Trong trường hợp không may tiếp xúc hoặc bị côn trùng đốt/cắn thì nên:

  • Phát hiện côn trùng trên tay: không nên lấy tay trực tiếp bắt chúng mà nên thổi hoặc để tờ giấy… để chuyển hướng đi của côn trùng. Rửa lại vùng da đã tiếp xúc với xà phòng và nước sạch ngay để loại bỏ độc tố.
  • Nếu không may đã chà xát vào côn trùng thì cần phải rửa sạch vùng da bị chà xát ngay lập tức.
  • Nếu môi trường sống xuất hiện loại côn trùng gây bệnh thì nên tìm cách tiêu diệt bằng thuốc xịt đặc hiệu hoặc sử dụng lưới mắt nhỏ để ngăn côn trùng hay chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang để ngăn chúng bay vào nhà.
  • Trước khi đi ngủ nên kiểm tra giường chiếu, chăn màn để chắc rằng không có côn trùng trên giường. Sau đó nên buông màn để chúng không thể xâm nhập được vào giường.
  • Để đề phòng sự sinh sôi và phát triển của côn trùng gây bệnh thì nên thường xuyên dọn dẹp vệ sinh khu vực sinh sống.
  • Cuối cùng, nếu nghi ngờ bị viêm da tiếp xúc do côn trùng đốt thì cần đi khám chuyên khoa da liễu để được chữa trị kịp thời.
Buông màn trước khi đi ngủ để tránh côn trùng đốt

Buông màn trước khi đi ngủ để tránh côn trùng đốt

6. Viêm da dạng HERPES CỦA DUHRING-BROCQ

Viêm da dạng HERPES CỦA DUHRING-BROCQ được xếp vào nhóm bệnh da bọng nước. Bệnh gây ra những thương tổn chủ yếu là những bọng nước nhỏ tập trung thành đám, thành cụm trên nền da đỏ (như bệnh herpes).

6.1. Nguyên nhân

Là do yếu tố di truyền và hệ miễn dịch. Cụ thể:

  • Yếu tố di truyền: liên quan tới HLA-B8, HLA-DRW3 và HLA-DQw2.
  • Yếu tố miễn dịch:
    • Do sự lắng đọng của IgA ở đỉnh các nhú bì. Có 2 dạng lắng đọng chủ yếu là dạng hạt và dạng dài, trong đó dạng hạt chiếm tỉ lệ cao hơn từ 85-95%, dạng dài chiếm tỉ lệ nhỏ hơn chỉ từ 5-15%.
    • Do bổ thể C3 lắng đọng thành hạt ở trên da.
    • Dị ứng do gluten: gluten là một loại protein có trong các loại ngũ cốc. Trong gluten có chứa gliadin – được cho là nguyên nhân gây nên bệnh.

Cơ chế tác động của gliadin là do tế bào biểu mô ruột có cơ quan thụ cảm phát hiện là receptor. receptor gắn với kháng nguyên gliadin tạo thành phức hợp receptor-gliadin. Phức hợp này kích thích tế bào lympho từ hạch lympho ở quanh ruột làm khởi động đáp ứng miễn dịch niêm mạc, do đó gây ra tình trạng viêm da.

Viêm da dạng herpes ở miệng trẻ

Viêm da dạng herpes ở miệng trẻ

6.2. Triệu chứng ở trẻ nhỏ bao gồm:

  • Trẻ sốt nhẹ hoặc không, mệt mỏi, sút cân không đáng kể.
  • Triệu chứng ban đầu là ngứa, sau đó có thể là bỏng rát hoặc đau.
  • Trên da xuất hiện các ban đỏ, mụn nước, sẩn mề đay rồi tiến triển thành bọng nước.
  • Các bọng nước thường xuất hiện trên nền ban đỏ, xuất hiện đơn lẻ hoặc cụm lại với kích thước bằng hạt ngô, căng, tròn, bóng.
  • Bên trong bọng nước chứa dịch màu vàng. Không xuất hiện hoặc hiếm khi xuất hiện xuất huyết hay quầng đỏ xung quanh bọng nước.
  • Thời gian tồn tại của bọng nước thường là từ 5-7 ngày, sau đó chúng trở nên đục hơn nếu bội nhiễm rồi vỡ ra, khi khô sẽ đóng vảy tiết hoặc vảy mủ.
  • Vị trí tổn thương thường gặp nhất là khuỷu tay, đầu gối, lưng, mông, đùi, sau đó là ở lưng và bụng với thương tổn có tính chất đối xứng.

6.3. Phương pháp điều trị

Điều trị bệnh là điều trị tại chỗ:

  • Sử dụng dung dịch sát khuẩn eosin 2%, hoặc xanh methylen để bôi vào vùng da bị bệnh.
  • Sử dụng thuốc mỡ kháng sinh hoặc kem corticoid để bôi vào vùng da bị bệnh khi tổn thương đã khô.
Trẻ nhỏ bị herpes vì những nụ hôn trìu mến của người lớn

Trẻ nhỏ bị herpes vì những nụ hôn trìu mến của người lớn

6.4. Cách chăm sóc

  • Xây dựng chế độ ăn không có gluten (các loại ngũ cốc trừ lúa gạo, ngô).
  • Đặc biệt, kiêng ăn gluten khoảng 5 tháng trở đến sẽ giảm bệnh và có thể không cần dùng thuốc để điều trị bệnh cũng khỏi được.
  • Không sử dụng các loại thuốc có iod, hải sản, thuốc chống viêm không steroid trong quá trình điều trị bệnh.
  • Ngoài ra việc sử dụng thuốc có chứa corticoid với da trẻ nhỏ cũng cần cân nhắc và tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
  • Vệ sinh sạch sẽ và dưỡng ẩm da hàng ngày với sản phẩm phù hợp như Kem EmBé.

*Lưu ý: làn da của trẻ nhỏ rất nhạy cảm vì vậy mẹ không nên tự ý mua thuốc điều trị bệnh tại nhà cho trẻ mà nên tham khảo ý kiến bác sĩ. Tránh trường hợp tiền mất, tật mang hoặc xảy ra những biến chứng nguy hiểm do điều trị sai cách.

Trên đây là 6 loại bệnh viêm da thường gặp nhất ở trẻ nhỏ. Hy vọng với những chia sẻ này các bậc bố mẹ có thể hiểu hơn về các loại viêm da ở trẻ em, từ đó có hướng xử lý kịp thời, đúng đắn khi bé có dấu hiệu viêm da.

Các loại viêm da ở trẻ em dễ mắc phải – Giúp mẹ nhận biết
5 (100%) 1 vote[s]
5/5 (1 Review)
Kem EmBé



Đặt hàng online
Kem EmBé có bán tại các nhà thuốc lớn trên toàn quốc. Để biết địa chỉ nhà thuốc gần nhất vui lòng truy cập vào Hệ thống nhà thuốc hoặc liên hệ Tổng đài tư vấn sức khỏe miễn phí: 1800.8179
Để đặt hàng online Quý khách xin vui lòng điền đầy đủ thông tin vào ô bên dưới. Chúng tôi sẽ gọi điện lại cho Quý khách xác nhận đơn hàng trước khi giao.

Thông tin đặt hàng:

x 80.000đ
Tổng giá:

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
>